Chủ Nhật, 20 tháng 3, 2016

Chuyện đi làm kỹ sư (part 2)

Đang máu văn chương lai láng, nên ngồi viết tiếp part II

Kỹ sư Việt Nam - anh là ai?


Quay lại vấn đề Duy Phạm đã nêu trong part I, tại sao các bậc cha mẹ hay định hướng con cái mình theo hướng Nhất bác sĩ, nhì Kỹ sư. Tất cả bắt nguồn từ nguyên nhân, về cơ bản, các bậc phụ huynh muốn con cái mình có nghề nghiệp ổn định, làm việc bằng tri thức và quan trọng nhất là có thu nhập tương đối cao so với mặt bằng chung của xã hội. Điều này đúng ở các nước tiên tiến trên thế giới. Ví dụ ở Úc, Mỹ, Canada hay các nước phương Tây, lương annual của một kỹ sư mới ra trường thường dao động từ 52 - 65 nghìn USD (khoảng 3000 - 4500 USD/tháng). Ở Việt Nam, lương cơ bản của một kỹ sư mới tốt nghiệp vào khoảng 350-500 $ (trừ mấy anh dầu khí ra nhé, mấy anh đó ngoại lệ, không tính) tức thu nhập bình quân một năm khoảng 4500$ - 6500$, cao hơn khoảng 2.5 đến 3 lần thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam. Một kỹ sư giỏi, có kinh nghiệm và chuyên môn tốt có thể đạt mức lương 1000$++/ tháng là chuyện bình thường. Tuy nhiên, cái gì cũng có hai mặt của nó.

Trong thời đại công nghệ bùng nổ như hiện nay, để nắm bắt cơ hội và vượt lên thì bắt buộc bạn phải nổi bật hơn dân cùng ngành, nghề kỹ sư thì càng phải như vậy. Áp lực buộc người kỹ sư phải không ngừng cập nhật, phải liên tục thay đổi tư duy để không bị tụt hậu và bị những người trẻ tuổi hơn nhấn chìm theo kiểu "Trường Giang sóng sau xô sóng trước". Ngoài ra, đặc thù thị trường lao động kỹ thuật của Việt Nam, một thị trường mới với làn sóng FDI ồ ạt, lại càng đòi hỏi người kỹ sư Việt Nam phải kịp thích ứng từng ngày, từng giờ một. Đáng buồn thay, đó lại là điều không phải ai cũng làm được.

Bản thân Duy Phạm từ khi ra trường đến nay cũng có nhiều lần được tiếp xúc với các em sinh viên kỹ thuật từ các trường ĐH danh tiếng của miền Nam như ĐH Bách Khoa, ĐH SPKT hay Khoa Học Tự Nhiên. Có khi thì qua các chương trình internship, hoặc các buổi phỏng vấn việc làm, hoặc những hoạt động ngoại khóa giữa công ty và nhà trường. Qua những lần tiếp xúc đó, Duy Phạm cũng dần dần hiểu được vì sao xảy ra hiện trạng 178,000 cử nhân, kỹ sư đang thất nghiệp.



Thứ nhất, hầu hết chương trình đào tạo của các trường ĐH hiện nay đang giảng dạy đều đã lạc hậu. Một số trường, khoa, có cố gắng thay đổi chương trình giảng dạy, nhằm đưa những kiến thức mới vào nhưng khá manh mún, tự phát, chưa có sự định hướng đồng bộ, và chưa thực sự hướng đến nhu cầu thực tế của thị trường lao động. 

Cơ cấu môn học các năm thường theo thứ tự sau:
  • Năm nhất: Kiến thức khoa học cơ bản, Toán, Lý, Hóa, hầu như ít có dính dáng đến chuyên môn nhiều, nếu có cũng là rất rất rất... cơ bản. Sinh viên học xong năm nhất phần lớn cũng chưa định hình được mình sẽ theo chuyên môn hóa gì và sau này ra trường làm cái chi chi...
  • Năm hai: Tiếp tục nâng cao của ... cơ bản, bắt đầu có nhiều hơn các môn chuyên ngành nhưng cũng dừng ở mức General hay Fundamental. Có một hoặc hai môn thực tập, chui vô cái phòng lab, làm lại mấy project xưa như trái đất. Học hết năm hai sinh viên mới chỉ có chút khái niệm, à thì ra cái ngành mình theo học nó là như vậy đó hả, cưỡi ngựa xem hoa dzui ghê ta. Đa phần các trường hợp bỏ học vì phát hiện "ngành học không phù hợp với bản thân" nằm ở năm này.
  • Năm ba: Bắt đầu phân chia vào các chuyên ngành, ví dụ với ngành kỹ sư điện- điện tử thì sẽ có một số vào viễn thông, tự động hóa, điện tử, v.v... Nửa năm đầu tiên tiếp tục cơ bản (lại cơ bản) theo chuyên ngành, nửa năm sau mới vô chuyên môn sâu. Một số môn học có yêu cầu làm project này nọ, nhưng đa phần làm theo hướng dẫn của giảng viên hoặc "copy có chỉnh sửa" các project của đàn anh đàn chị năm trước.
  • Năm tư: Học hết những kiến thức "chuyên sâu" và làm báo cáo tốt nghiệp.
Có thể thấy với 4 năm học, mà hết 2 năm rưỡi cưỡi ngựa xem hoa, không có định hướng cụ thể, đến 1 năm rưỡi cuối cùng thì nhồi nhét kiến thức, mà phần lớn là lý thuyết suông, thiếu trải nghiệm thực tế nên việc phần lớn các anh kỹ sư mới tốt nghiệp ngẩn tò te trước các yêu cầu của doanh nghiệp, rồi thất nghiệp là dễ hiểu. Dĩ nhiên, vẫn có một bộ phận sinh viên xuất sắc, vượt lên trên "phần còn lại" để tỏa sáng. Tuy nhiên, đó là những cá nhân thiên bẩm, hoặc xuất phát từ một sự định hướng tốt của bản thân, chứ không phải do quá trình đào tạo.

Thứ hai, phong cách học tập lối mòn, đọc chép, copy paste, không biết cách ứng dụng những điều đã học được vào thực tế đang làm hại các sinh viên.

Trong một buổi tọa đàm với hiệp hội giảng viên ngành kỹ thuật, Technical and Vocational Education and Training (TVET) khu vực Đông Nam Á, Duy Phạm có trao đổi với các thầy cô trong đoàn về những yêu cầu đòi hỏi ở một người kỹ sư, để có thể vượt qua vòng phỏng vấn tuyển dụng và có được việc làm ở doanh nghiệp. Đó là kiến thức chuyên môn vững, kinh nghiệm thực tế phong phú và sở hữu những kỹ năng mềm cần thiết. Câu hỏi đặt ra ở đây, và cũng thường được nhiều người hỏi, là : "Sinh viên mới ra trường, làm sao có được kinh nghiệm thực tế?"

Xin thưa, kinh nghiệm ở đây không nằm ở số năm làm việc (years of work) mà là những trải nghiệm (experience) mà một người đã trải qua. Một sinh viên mới ra trường, nhưng trong thời gian đi học, ngoài những bài tập, đồ án giảng viên giao, anh ta còn làm thêm những project ngoài, mày mò những kiến thức không có trong sách vở, đó cũng là một kinh nghiệm. Hay những em sinh viên mới năm 3, nhưng đã tự mình đăng ký tham dự các chương trình factory tour do các doanh nghiệp tổ chức, từ chính tiền công đi làm thêm ngoài giờ của mình, hoặc tự đi xin thực tập tại các công ty để tích lũy kinh nghiệm. Qua các chương trình đó, anh ta nắm bắt được những vị trí nào của doanh nghiệp cần tuyển dụng, những yêu cầu nào cần phải có, để rồi từ đó trong một hai năm còn lại trên ghế giảng đường, họ tập trung bổ sung những khiếm khuyết và có được thành công. Những ứng viên sở hữu những kinh nghiệm như vậy luôn là lựa chọn hàng đầu của các nhà tuyển dụng.

Trong vòng bốn năm trở lại đây, Duy Phạm đã phỏng vấn khoảng hơn 20 ứng viên mỗi năm cho các vị trí của phòng kỹ thuật trong công ty. Khi yêu cầu các ứng viên mô tả đồ án tốt nghiệp của mình, phần lớn các đồ án mà sinh viên thực hiện hiện nay tương tự nhau khoảng 60-70%, và phần lớn đều xuất phát từ các dự án NCKH của giảng viên hướng dẫn, rất ít bạn sinh viên nào có thể tự nghĩ ra một project mới và tự mày mò tìm tòi theo cách riêng của mình. Nói riết Duy Phạm thuộc luôn, hỏi chừng vài câu là mình nói vanh vách, có em còn thắc mắc hỏi lại : "ủa hồi đó anh cũng nghiên cứu cái này hả? Sao anh biết rành quá vại???" Dạ thưa, em trai phỏng vấn trước em mới nói y chang em, anh chỉ thu âm rồi tua lại thôi à !!!

Thứ ba, thiếu kỹ năng mềm "trầm văn trọng"

Ôi thôi, nhắc tới chuyện này chắc viết 10 cái blog chưa hết. Nhiều anh kỹ sư mới ra trường, mặt mũi sáng láng, viết cái CV chỉ vỏn vẹn 1/4 trang A4, trong đó phần lớn là thông tin cá nhân: Họ tên, địa chỉ, số điện thoại, tên trường, tên ngành và ... chấm hết. Số này out từ vòng giữ xe đạp. Một số khác đi phỏng vấn bỏ áo ngoài quần, hoặc mặc áo không ủi, đi dép v.v... Số này may mắn hơn, được Duy Phạm biến buổi phỏng vấn thành buổi "góp ý chân thành và thẳng thắn" về tác phong công nghiệp. Nhiều anh còn trả treo, "Dạ em là dân kỹ thuật, phải bụi bặm vậy nó mới đúng chất, mới sáng tạo được những điều phi thường chứ anh?". Dạ thưa ông nội, ông đậu phỏng vấn đi rồi thể hiện chuyên môn cho tui phục, lúc đó muốn bụi bặm sao cũng được. Còn bây giờ mời anh đi về, công ty tui chỉ có thể tuyển kỹ sư bình thường, thiên tài (tai) như anh tui hông dám tuyển ạ. 

Một số đồng chí khác thì lại thuộc dạng "tự kỷ", vô gặp nhà tuyển dụng là run như cầy sấy, ăn nói ấp a ấp úng. Em chỉ phỏng vấn anh thui mà, có ăn thịt anh đâu mà anh sợ em dữ vậy. Mình học hành ngon lành, chuyên môn tốt, tiếng Anh giỏi thì cứ tự tin mà thể hiện. Với những đối tượng này, thường Duy Phạm phải mất 10' trấn an tinh thần cho ứng viên rồi mới bắt đầu phỏng vấn. Gặp bữa nào Duy Phạm quởn thì còn cà kê tâm sự được, bữa nào đang bận bịu thì trao đổi vài câu xong cho về, chỉ thấy tiếc cho bạn đó vì (có thể) có chuyên môn mà hông có cơ hội thể hiện.

Đó mới là phỏng vấn, nhận vô làm/thực tập rồi còn nhiều chuyện nhiêu khê nữa. Biểu viết cái báo cáo thực tập hàng tuần, hạn là thứ hai nộp, mà vui thì sáng gửi, buồn thì qua chiều thứ ba mới gửi. Có tuần quên luôn. Duy Phạm giao project cho làm có hạn deadline rõ ràng, tới gần deadline vẫn chưa đâu vào đâu, mình nói thôi chiều nay em tăng ca, ở lại một hai tiếng đi, anh hướng dẫn em làm cho xong thì cậu trả lời : "Dạ em sức khỏe yếu, tăng ca nhiều có hại cho sức khỏe, mà chiều nay em có hẹn rồi ạ, không tăng ca được". Vậy thui em về nhà nghỉ ngơi luôn đi ha, đi làm nhiều cũng có hại cho sức khỏe lắm đó. Vậy mà dám ghi trong CV là "can work under pressure", dóc tổ!!!

Cuối cùng là vấn đề muôn thuở, ngoại ngữ!!!

Là kỹ sư trong thời đại số này, mà không biết ít nhất một ngoại ngữ đúng là thiếu sót. Đa số sinh viên tốt nghiệp chỉ có được hai kỹ năng là Reading và Writing, phần lớn chỉ có mỗi cái read. Còn Listening và Speaking thì hầu như là khoảng trống mênh mang. Muốn vô công ty nước ngoài, được đi tu nghiệp hay đi công tác thì kỹ năng tiếng Anh phải hoàn thiện cả 4 yếu tố Nghe, Nói, Đọc và Viết. Vậy thì mới làm việc được với các kỹ sư nước ngoài, mới chuyển giao được công nghệ, vô họp Tele-conference còn chém gió vù vù cho chúng nó nể chứ. Chứ chỉ biết đọc và viết, vô họp tụi nó nói rần trời, mình ngồi ngây mặt ra trông, xong cuối buổi nói hỏi lại "Do you understand?" thì sao? Hông lẽ nói: "Tui mém hiểu, lát ông chịu khó viết lại e-mail cho tui đọc nghen, là tui hiểu liền à!!!" Chắc chết mất.

Nói không cần nói như gió, phát âm chuẩn giọng British hay American. Chỉ cần nói đúng và đủ để người nghe hiểu ý mình. Ban đầu 20% English, 80% quơ-lish hay múa-lish. Rồi từ từ tăng cái đầu lên và giảm cái sau xuống. Cũng không cần nhất thiết phải đi học trung tâm Anh ngữ Quốc Tế hay VUS gì đó đại loại (dĩ nhiên, nếu nhà có điều kiện thì vô đó là tốt nhất) , đi ra Phạm Ngũ Lão hay Đề Thám, xin mấy việc làm part-time trong mấy cái pub Tây hoặc make friend với mấy anh Tây ba lô, làm tour guide free cho người ta rồi tranh thủ học tiếng Anh luôn. Hoặc mở mấy phim bom tấn lên, tắt phụ đề đi và tập nghe rồi nói lại những câu thoại trong phim cũng là 1 cách học English rất hiệu quả. Duy Phạm lâu lâu khi trò chuyện với mấy ông expat trong công ty, cũng hay lôi mấy câu kinh điển trong phim ra nói, mấy ổng khoái quá trời. 

Tạm kết phần nói về sinh viên kỹ thuật, bữa sau viết tiếp 1 bài về kỹ sư đã đi làm.

Chuyện đi làm kỹ sư (part 1)

Một buổi sáng chủ nhật rảnh rỗi, tự nhiên Duy Phạm nhớ ra cái trò viết blog. Hồi xưa thời còn sửu nhi mài mông ghế giảng đường Đại Học, Duy Phạm cũng học đòi người ta mở cái Blog360 của Yahoo hồi đó để viết. Chủ yếu là viết nhăng viết cuội, tình cảm trai gái vớ vỉn, cứ buồn là mở máy tính lên viết. Nên cái blog của Duy Phạm ngộ lắm, lúc nào đang thất tình hay tơ tưởng em gái nào thì blog cứ gọi là "ra sòn sòn" như gà đẻ trứng, tới lúc vui vẻ hạnh phúc thì lại trống không. Tới khi lớn lên một chút, bị cái vòng xoáy cuộc đời nó vùi dập, nên cái Blog của Duy Phạm cũng bị dập theo luôn.

Giờ Duy Phạm mở lại cái blog này để viết, chủ yếu để chia sẻ những trải nghiệm đã qua, những đánh đổi mà tuổi trẻ đã phải trả giá để có được. Không phải để dạy đời ai cả, vì mình cũng chẳng là gì để dạy dỗ người khác. Chia sẻ ra đây, anh em nào thấy hay và hữu ích thì đọc, nếu thấy ông này chỉ giỏi chém gió thì cười khẩy rồi lướt qua, Duy Phạm hết lòng cảm tạ.

Chủ đề đầu tiên, cũng là để khai blog, là câu chuyện về cái nghề đã theo Duy Phạm gần 10 năm qua:

NGHỀ KỸ SƯ



Ngày xưa các cụ hay nói thứ tự ngành nghề trong xã hội là Nhất Sĩ Nhì Nông Tam Công Tứ Cố (Thương), cái nghề Công (nghệ) ngày xưa trong xã hội nông nghiệp phong kiến chỉ được coi cao hơn nghề buôn bán. Về sau này, trong giai đoạn thực dân kiềm hãm và ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, các bậc cha mẹ lại định hình tư tưởng "Nhất bác sĩ, nhì kỹ sư" cho con em phấn đấu. Còn nhớ hồi đó khi Duy Phạm đọc tiểu thuyết "Ván bài lật ngửa" của nhà văn Nguyễn Trương Thiên Lý, hình ảnh "ông kỹ sư" Nguyễn Thành Luân tham dự một buổi chiêu đãi ở dinh phó thủ tướng Nhu, viên Đại tá VNCH gọi ông là "ông kỹ sư" thay cho cấp quân hàm thiếu tá của ông khi đó để thể hiện sự tôn trọng đã làm Duy Phạm ngất ngây tự hào. Vậy mà sau vài thập kỷ, mở báo ngày nay ra, đọc những dòng tin " 178,000 kỹ sư, cử nhân thất nghiệp", hay "kỹ sư đi bán trà đá, vé số nuôi thân" thấy sao mà xót xa quá chừng

Đầu tiên, hãy nói về hình tượng người kỹ sư theo suy nghĩ của Duy Phạm đã. Trong suốt quá trình học tập, có ba hình tượng người kỹ sư mà Duy Pham thực sự đã bị ấn tượng và từ đó định hướng khao khát của bản thân để phấn đấu trở thành một trong số họ. Đó là kỹ sư Cyrus Smith đa tài, thông tuệ trong tiểu thuyết The Mysterious Island của tác gia Jules Verne, kỹ sư Nguyễn Thành Luân mưu trí, dũng cảm của Ván bài lật ngửa, và người thứ ba là giáo sư viện sĩ Trần Đại Nghĩa, cha đẻ của ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Mẫu số chung của ba hình tượng ấy là một kho tri thức thông tuệ, một khả năng giải quyết các vấn đề hóc búa một cách phi thường, nhưng rất khoa học và bài bản, cộng với một tư duy logic chính xác đến kinh ngạc. Hình ảnh của một "Mr Biết Tuốt" luôn là điều đầu tiên người ta nghĩ đến khi nói về một kỹ sư.

Với tinh thần đó, Duy Phạm hăm hở đăng ký thi Đại học ngành kỹ thuật. Sau 4 năm dùi mài đèn sách, (với vô số lần thi rớt + học lại) cuối cùng Duy Phạm cũng cầm được tấm bằng tốt nghiệp kỹ sư trên tay. Nhờ biệt tài "chém gió" cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt, vừa ra trường Duy Phạm đã được một công ty FDA ký hợp đồng và đưa đi "đào tạo" ở nước ngoài. Lúc đó Duy Phạm cứ ngỡ cuộc đời toàn màu hồng, những tưởng ước mơ trở thành một kỹ sư được xã hội kính nể và trọng vọng đã tâm thành ý nguyện. Có ai ngờ, đó chỉ là những bước khởi đầu...

Ba tháng đầu tiên ở nước ngoài là khoảng thời gian khó khăn nhất. Những kiến thức học được ở giảng đường không được áp dụng, một tháng rưỡi đầu tiên chỉ ngồi ở văn phòng, đọc mớ tài liệu kỹ thuật chất cao qua khỏi đầu, không được đi ra thực tế ... cảm giác thất vọng là không thể tránh khỏi. Đến ngày đầu tiên được theo một anh senior vào nhà máy, thì chỉ được đứng nhìn, và ghi chép, không được mó tay đến cả cái bảng điều khiển hay vặn con ốc, lúc đó mới thấy vị trí mình đang ở đâu trên cõi đời này. Cũng may, công ty của Duy Phạm là một công ty có chương trình đào tạo rất chuyên nghiệp, nêu sau khoảng 6 tháng, Duy Phạm đã có thể handle các công việc phức tạp một mình, và sau một năm rưỡi công tác ở nước ngoài, công ty cũng đã quyết định chuyển Duy Phạm và 2 anh kỹ sư VN khác cùng chuyến với Duy Phạm về nước, để setup cho văn phòng của công ty ở Việt Nam. Nhưng đó cũng chỉ là sự bắt đầu cho hụt hẫng tiếp theo.

18 tháng ở nước ngoài, thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 16 triệu bao gồm sinh hoạt phí và lương (USD khi đó khoảng 17-18K) đến khi về nước, bao hy vọng về một cuộc sống khá giả tan thành mây khói khi cty offer mức lương chỉ 8 triệu đồng/tháng, tuy cao hơn mức lương khởi điểm gần gấp đôi (4.5tr) nhưng đó là thời điểm khủng hoảng kinh tế bùng phát, ly cafe từ 10K thành 25K, Duy Phạm đành từ bỏ ước mơ thượng lưu để tập trung "thoát nghèo". Thêm vào đó, mục đích cty đào tạo kỹ sư theo hướng "chuyên môn hóa", nên sau khỏang 3-4 năm làm việc, kiến thức mà Duy Phạm có được đang chững lại hẳn. Đã đến lúc cần có sự thay đổi.

Viết dài quá rồi...để dành bữa sau viết tiếp vậy.
(Bonus cái hình ngày đầu tiên setup cho nhà máy Intel Vietnam, mới đó mà 6 năm rồi ta)